“Câu chuyện về quá trình trưởng thành”: David Wilson chia sẻ về màn hợp tác của ông với Uno Shoma

Note: Chúng mình xin chia sẻ phỏng vấn của nhà nghiên cứu âm nhạc Mikhail Lopatin với biên đạo viên David Wilson về quá trình làm việc với Shoma để sáng tạo ra bài thi tự do “Dancing On My Own” – một bài thi “đậm tính cá nhân một cách độc đáo” với Shoma và người hâm mộ. Phỏng vấn rất dài và đi sâu vào chuyên môn, và qua phỏng vấn này, chúng ta hiểu thêm về những khó khăn, trắc trở của Shoma trong mùa giải trước từ lời chia sẻ của một chuyên gia trực tiếp làm việc với cậu; con người và tư tưởng sống của cậu; cũng như tâm thế và cách làm việc của một biên đạo viên. Hi vọng sẽ được các bạn đón nhận.

Bản dịch đã có sự cho phép và kiểm duyệt của Mikhail Lopatin và biên đạo viên David Wilson. Xin vui lòng không mang đi nơi khác.


Việc giới thiệu David Wilson gần như là không cần thiết: một biên đạo viên nổi bật với kinh nghiệm hơn 30 năm, với hàng dài vận động viên trượt băng từng được ông biên đạo cho những bài diễn đáng nhớ, một số trong đó từng giúp họ chiến thắng những giải Vô địch thế giới, một số khác – Olympic, những bài diễn còn lại dù không thể mang lại chiến thắng nhưng cũng để lại dấu ấn đậm sâu. Trong những đối tác của ông ta có thể tìm thấy những vận động viên giỏi nhất thuộc nhiều thế hệ khác nhau, từ những năm 1990 đến hiện tại: Ito Midori, Marie-France Dubreuil và Patrice Lauzon, Kim Yuna, Javier Fernandez, Hanyu Yuzuru, và rất nhiều những người khác nữa. 

Trong thời gian tương đối gần đây, một cái tên mới đã xuất hiện trên danh sách dài đó, Uno Shoma – Á quân Olympic, 2 lần Á quân VĐTG, 4 lần Vô địch quốc gia, và là người giành chiến thắng tại giải Vô địch 4 châu lục 2019. Màn hợp tác mới mẻ này sẽ là chủ đề chính trong cuộc trò chuyện giữa tôi với David, nhưng cuộc nói chuyện không chỉ chăm chăm tập trung vào Shoma. Trong suốt cuộc nói chuyện, David đã rất hào phóng chia sẻ với tôi những kí ức kéo dài suốt 30 năm trong sự nghiệp huấn luyện và biên đạo của ông. Do vậy, bên cạnh Shoma, độc giả cũng sẽ tìm thấy rất nhiều những cái tên thân thuộc từ cả quá khứ lẫn hiện tại xoay quanh trọng tâm của bài phỏng vấn, không chỉ là Uno Shoma, mà còn là câu lạc bộ trượt băng của cậu tại Nagoya, những người huấn luyện viên của cậu, và truyền thống giàu có của trượt băng nghệ thuật Nhật Bản mà cậu ấy nay đã trở thành một phần quan trọng – gần như là tinh tuý – của truyền thống ấy.

Uno Shoma và David Wilson tại Câu lạc bộ Trượt băng Nagoya vào tháng 8 năm 2019 
(Nguồn)

Giới thiệu. Quá khứ: Câu lạc bộ Trượt băng Nagoya, 1997-2003

David, tôi muốn bắt đầu cuộc trò chuyện của chúng ta bằng việc nhìn nhận thành quả hợp tác của anh với Uno Shoma dưới góc độ cá nhân và toàn cảnh một chút. Theo như tôi được biết, từ những năm 1990 anh đã tham gia biên đạo khá nhiều cho Câu lạc bộ Trượt băng Nagoya: cho Ito Midori, Nakano Yukari, Onda Yoshie, và nhiều vận động viên khác là học trò của HLV Yamada Machiko huyền thoại.

➤ Vâng! Tất cả bắt đầu khi tôi được yêu cầu biên đạo cho bài thi tái xuất của Midori. Vốn là cô ấy dự định trở lại thi đấu tại Olympic Nagano 1998. Vậy là, năm 1997 tôi được yêu cầu bay qua Nhật và biên đạo cho cô ấy một bài thi ngắn và một bài tự do. Ở thời điểm đó, cô ấy đã là một vận động viên chuyên nghiệp và rời khỏi đấu trường được vài năm, từ kỳ Olympic trước. Trong khi tôi thì còn trẻ – chỉ hơn Midori có 3 tuổi. Tôi rất non nớt và tương đối thiếu kinh nghiệm trong việc biên đạo. Trước đó tôi mới chỉ từng biên cho một, hai vận động viên ở trình độ quốc tế thôi. Nên đó quả là một yêu cầu lớn đối với tôi, khiến tôi vô cùng vinh dự – và lo sợ nữa!

Tôi đến Nhật khi đã chuẩn bị kĩ càng: Tôi đã tìm nhạc cho cô ấy, và HLV Yamada Machiko của cô ấy – quý bà tuyệt vời này… Tôi gọi bà ấy là “Sophia Loren*” của Nhật Bản, bởi lẽ bà ấy rất cuốn hút và có cách cư xử gần như đậm chất châu Âu. Bà ấy nhận tôi vào làm, và bà rất yêu thích bài diễn tôi biên cho Midori, dù 2, 3 tháng trước Olympic Midori lại quyết định không quay lại thi đấu nữa. Chúng tôi đã biên đạo chi tiết cả bài thi ngắn và tự do cho cô ấy, tôi qua Nhật đến tận 2-3 lần trong thời gian đó, chúng tôi cũng tham khảo ý kiến từ cả liên đoàn và giám khảo bên họ để xem xét lại các bài thi đó – ai nấy cũng háo hức – và cuối cùng cô ấy lại quyết định sẽ không tái xuất. Tôi đã vô cùng buồn bã. Biên đạo viên chúng tôi vẫn luôn gạt cái tôi sang một bên khi làm việc, nhưng thỉnh thoảng có những điều thật thú vị trong cuộc sống chúng tôi – thật khó để bản thân không đặt niềm kiêu hãnh của mình vào đó. 

(*Sophia Loren: một nữ diễn viên người Ý nổi tiếng, từng đoạt tượng vàng Oscar)

Anh đã rất muốn mọi người được xem các bài thi đó đúng không? 

➤ Vâng, tôi đã rất muốn mọi người được xem chúng! Midori được biết đến với kĩ thuật nhảy xuất chúng và là cô gái người Nhật nhỏ nhắn đáng yêu bị ngã vào rào chắn sân băng**. Tôi đã được làm quen với Midori – câu chuyện về con người cô ấy cũng rất thú vị. Cô ấy lại còn  đáng yêu và kì diệu nữa. Chúng tôi đã có khoảng thời gian tuyệt vời làm việc cùng nhau. Tôi nghĩ rằng thành quả hợp tác của chúng tôi là rất tốt. Thật thất vọng là mọi người lại không được xem chúng. Tuy vậy, Yamada Machiko thích bài thi của tôi đến mức bà ấy đã mời tôi quay trở lại vào năm sau. Tôi đã rất bất ngờ! Tôi cứ tưởng thời gian mình được làm việc với nền trượt băng nghệ thuật Nhật Bản còn chưa kịp bắt đầu đã kết thúc và chìm nghỉm rồi cơ.

(**Ở giải Vô địch thế giới 1991, Ito Midori khi thực hiện bài thi đã nhảy quá đà và vượt khỏi khuôn khổ sân băng, va chạm với phần đầu của bảng rìa sân và ngã vào một camera đang hoạt động. Cô sau đó đã tiếp tục bài thi của mình như chưa có chuyện gì xảy ra dù đang bị đau, và tiến đến hỏi thăm, xin lỗi người quay phim sau khi kết thúc phần thi của mình. Tinh thần và cách cư xử của cô Ito đã để lại ấn tượng sâu sắc trong mắt khán giả trượt băng quốc tế)

Midori khi đó đã quyết định tham gia chuỗi iceshow của Khách sạn Prince Hotels – một chuỗi iceshow lớn ở Nhật Bản, kéo dài hàng tháng và diễn mỗi tối. Yamada Machiko đã nhờ tôi biên hai bài diễn show cho Midori, cùng lúc đó tôi cũng bắt đầu làm việc với những cô bé học trò nhỏ tuổi khác của bà ấy. Nakano Yukari khi đó ở cấp thiếu nhi, khoảng 9 tuổi. Phong cách của cô bé thật vui tươi và ấn tượng! Yamazaki Arisa cũng là một vận động viên cấp thiếu niên rất tài năng. Còn Onda Yoshie. Và rất nhiều vận động viên khác nữa! Vậy là tôi đến Nhật Bản trong 3 tuần và làm việc khoảng 10 giờ mỗi ngày. Đôi khi, họ còn muốn tôi biên đạo một bài mở màn cho một cậu bé – tôi làm tất cả những yêu cầu của họ! Và tôi yêu công việc này. Tôi đã làm việc như vậy trong 6 năm. Trong 6 năm liên tiếp đó, mỗi năm tôi qua Nhật 2 hoặc 3 lần, mỗi lần 2 hoặc 3 tuần. Toàn bộ những năm tuổi 30 của tôi dành trọn cho công việc ở Nhật Bản.

I. Làm việc với Uno Shoma, 2016-2020

Giờ thì, tua nhanh đến những năm 2010 với màn hợp tác của anh với Shoma – anh có thể nói thêm về khởi nguồn của việc này không? Bài đầu tiên anh biên cho cậu ấy là bài diễn thưởng lãm “This town” mùa giải 2016-2017…

➤ Vâng, trước khi làm việc với cậu ấy để tạo ra bài thi tự do “Dancing on my own”, tôi đã từng biên 2 bài diễn thưởng lãm cho cậu ấy. Bài đầu tiên là “This town” của Niall Horan và bài thứ 2 là “Time after time” của Harry Connick. Vậy nên chúng tôi vốn cũng đã xây dựng quan hệ sơ sơ rồi và tôi nghĩ là bạn có thể nói rằng tôi ít nhiều hiểu được đôi chút về con người cậu ấy, dù cho chỉ mới tiếp xúc được tổng cộng có một tuần trong năm nọ và thêm một tuần của một năm khác. Công việc kết thúc và hoàn thành rất nhanh chóng. Nhưng khi đội cậu ấy tìm đến tôi với đề nghị về một bài thi, tôi đã cảm thấy rất biết ơn vì những trải nghiệm với cậu trong quá khứ.

“This town” ở giải Vô địch 4 châu lục 2018
“Time after time” ở Prince Ice World 2018

Tôi thực sự cho rằng việc chọn nhạc và quyết định phương hướng bài diễn là rất khó – đặc biệt là với những người ta hay gọi là “vận động viên thượng hạng” này, vốn đã là ngôi sao và ít nhiều cũng đã là những nhà vô địch hay từng giành huy chương – khi ta chưa hiểu được con người họ. Anh có thể thân thuộc với phong cách trượt của họ, với cách họ di chuyển và trượt trên băng, với cá tính họ thể hiện khi trình diễn, nhưng anh không phải lúc nào cũng biết được họ là ai, tính tình thế nào, hay tâm hồn ra sao. Và với tôi, với tư cách một người làm nghệ thuật, đây là lĩnh vực khiến tôi hứng thú nhất. Tôi không quá chú tâm đến cá tính trình diễn của họ xét trên những bài diễn họ từng thể hiện – tôi hứng thú trong việc tìm hiểu con người họ và tìm cách giúp họ bộc lộ những mặt mà có thể họ chưa từng thể hiện, hay chưa từng trải nghiệm trước kia và đưa những mặt đó vào phong cách trượt của họ. 

Do vậy, tôi đã rất may mắn khi có được cánh cửa sổ để nhìn vào con người cậu ấy. Tôi không dám nhận là mình hiểu cậu ấy đến rạch ròi, nhưng tôi đã biết được nhiều chuyện về cậu qua nhiều lần trò chuyện với quản lý Ohama Koji của cậu; anh ấy đã chia sẻ với tôi rất nhiều thông tin về những vấn đề cậu ấy đang trải qua trong cuộc sống – và trong cả sự nghiệp trượt băng – ở thời điểm đó. 

Lời mời hợp tác này là một lời mời đặc biệt riêng hay là một phần trong sự hợp tác dài hạn giữa anh và Câu lạc bộ Trượt băng Nagoya?

➤ Thực ra việc này không có liên hệ gì với công việc trước kia ở Nagoya của tôi, không có liên hệ nào hết. Huấn luyện viên của cậu ấy khi đó là cô Higuchi Mihoko, một người tôi vốn có quan hệ quen thân từ trước vì cô ấy hồi xưa là trợ lý của HLV Yamada và cô phụ trách biên đạo rất nhiều cho những học trò nhỏ. Cô ấy cũng giám sát tôi từng bước trong mọi công việc của tôi với họ, trừ bài diễn của Midori. Chúng tôi khi đó luôn làm việc kề cận bên nhau.

Khi tôi lần đầu được yêu cầu biên bài diễn thưởng lãm cho Shoma, cậu ấy vẫn còn là học trò của cô ấy, và lần thứ 2 cũng vậy, nhưng ở thời điểm trợ lý của cậu ấy liên hệ nhờ tôi biên bài thi thì cậu ấy đã rời đội huấn luyện cũ rồi. Cá nhân tôi thì khá buồn, vì nếu như tôi có thể quay về đội huấn luyện [ở CLB Nagoya] thì tốt thật. Thật ra thì tôi hơi buồn đó. Tôi nghĩ ý tưởng cho lời mời này xuất phát từ bản thân cậu, đội quản lý và mẹ cậu thôi. Tôi không nghĩ việc này có liên hệ gì với đội huấn luyện cũ cả, nếu không thì họ đã có thể mời tôi từ 2, 3 năm trước rồi. 

Trong vài cuộc phỏng vấn trước đây, anh từng nhấn mạnh tầm quan trọng của quan hệ hợp tác dài hạn và ổn định giữa vận động viên và biên đạo viên, rằng kết quả của sự hợp tác chỉ có thể được bộc lộ rõ ràng sau vài năm gắn bó. Dưới quan điểm này, anh đánh giá thế nào về sự hợp tác của anh với Shoma? Anh có cho rằng mối quan hệ này hiện đang đạt được mức phát triển và tương tác theo đúng hướng, sau 2 bài diễn thưởng lãm và một bài thi anh đã biên cho cậu ấy?

➤ Tôi thường đưa ra ý kiến như vậy bởi lẽ, thành thật mà nói, tôi đã khá may mắn trong suốt sự nghiệp của tôi từ khi mới bắt đầu. Một trong những quan hệ hợp tác đầu tiên tôi có là với Sébastien Britten, một vận động viên người Canada vô cùng tuyệt diệu và xuất sắc. Anh ấy là nhà vô địch quốc gia vào năm 1995. Anh cũng là một trong những vận động viên đạt nhiều huy chương nhất của chúng tôi nữa, và anh còn tham gia Olympic 1994. Trên khắp thế giới, anh ấy được coi là một trong những vận động viên nghệ thuật nhất của thế hệ anh, được đồng nghiệp tôn trọng ngưỡng mộ. Và cộng đồng giám khảo ở thời điểm đó, chắc sẽ nói với anh rằng: ‘ôi Sébastien, giá mà anh chỉ cần nhảy được triple axel thôi là anh sẽ lên được bục huy chương ngay!’. Anh ấy gặp vấn đề với cú triple axel, nhưng có tất cả những phẩm chất còn lại. Chúng tôi bắt đầu làm việc với nhau ngay từ những ngày đầu tôi theo đuổi nghề nghiệp hiện tại – ngay trong năm đầu tiên tôi làm huấn luyện viên, tôi trở thành biên đạo viên của anh ấy – và chúng tôi làm việc gần gũi với nhau trong suốt khoảng 10 năm. Đúng là một trải nghiệm học hỏi tuyệt vời! Tôi mang ơn, không chỉ với anh ấy, mà còn cả với huấn luyện viên của anh, với những năm phát triển quan hệ, trưởng thành và học hỏi ấy. Và tôi cũng có những mối quan hệ lâu dài từ đó đến nay nữa: với Jeffrey Buttle, Joannie Rochette, Cynthia Phaneuf… Với rất nhiều vận động viên. Alissa Czisny của Hoa Kỳ nữa…

Và tất nhiên, với Kim Yuna và Javier Fernandez.

➤ Và trên tất cả, Yuna đúng là trái cherry trên đỉnh cốc kem sundae! Cô ấy không chỉ đến làm việc với tôi rồi về – cô ấy đã quyết định ở lại. Nhờ vậy, trong suốt 4 năm tôi đã có cơ hội tương tác với cô ấy: làm việc cùng nhau, cải tiến thành quả hợp tác cùng nhau. Và sau này kể cả khi đã rời HLV Brian, cô ấy vẫn giữ quan hệ với tôi. Tôi đã đến California để làm việc với cô ấy và Peter Oppegard rất nhiều lần trong suốt 2 năm đó. Và rồi, vì cô ấy quay trở lại Hàn Quốc, cô ấy đã đưa tôi theo cùng. Kể cả sau khi cô ấy trở thành vận động viên chuyên nghiệp, tôi vẫn tiếp tục hợp tác với cô ấy.

Tôi thực sự đã rất may mắn khi có cơ hội trải nghiệm thành quả của những mối quan hệ như vậy. Tất nhiên làm việc với một vận động viên mới luôn có cái vui riêng, nhưng sâu thẳm trong tâm trí tôi vẫn luôn băn khoăn: liệu đây sẽ chỉ là mối quan hệ tạm thời chăng? Xu thế hiện tại là các vận động viên mỗi năm lại làm việc với biên đạo viên mới mà. Họ mua túi xách Louis Vuitton, mua túi Gucci, rồi mua tiếp túi Armani rồi lại quay trở lại từ đầu. Và hiện tại chúng ta còn ở một thời đại có rất nhiều biên đạo viên xuất sắc nữa chứ. Nhiều vô kể! Chúng ta có Shae-Lynn Bourne, Jeffrey Buttle, Lori Nichol, Tom Dickson. Họ đều liên tục tạo ra những bài diễn chất lượng. Chúng ta cũng có Benoit Richaud hiện đang tạo ra những bài diễn mới mẻ và tuyệt diệu; có những biên đạo viên người Nga, người Ý tuyệt vời. 

Chúng ta đang sống ở thời đại mà ngành biên đạo phát triển rực rỡ. Các biên đạo viên thực sự thể hiện toàn bộ năng lực của họ! Có một thời, người ta chỉ quan tâm đến các huấn luyện viên – các biên đạo viên đôi lúc bị gạt ra ngoài. Và cũng không có nhiều người trong chúng tôi thực sự nổi bật. Hiện tại chúng ta đang ở thời kì mà khán giả mong muốn được thưởng thức những màn trình diễn “chất” nhất. Họ muốn chúng phải mới mẻ, phải sảng khoái, phải sáng tạo. Họ muốn chúng phải ý nghĩa, phải chạm đến tâm can, phải rung động. Họ không còn chỉ hài lòng với các cú nhảy nữa! Màn trình diễn cần phải tinh tế, phải xuất sắc. Vậy nên một mặt, tôi sẽ nói vì hiện tại có rất nhiều biên đạo viên xuất sắc, tôi có thể hiểu cái xu thế “mua sắm dạo” đó, nhưng mặt khác tôi cũng sẽ nói việc tìm được đối tác bạn có thể kết nối và cùng nhau trưởng thành mang lại khá nhiều lợi ích. Bạn thực sự sẽ học được cách làm sao để giúp vận động viên phơi bày được hết năng lực xuất sắc của họ qua thời gian dài làm việc với nhau. Lần đầu tiên, năm đầu tiên bao giờ cũng sẽ khó. Đôi khi bạn gặp may mắn: bạn chọn được bản nhạc phù hợp, bạn làm việc với vận động viên đó – và bùm, kết quả tuyệt vời! Nhưng điều đó rất khó. Mọi chuyện sẽ tốt hơn nếu bạn đã đi được một quãng đường với họ từ trước.

Trường hợp của Shoma, xét theo mặt này, quả là thú vị, vì cậu ấy với huấn luyện viên Higuchi Mihoko đã có quan hệ hợp tác lâu năm. Và cậu ấy cũng đã có cho mình phong cách riêng. Không biết là anh đã tìm cách làm việc với phong cách vốn có của cậu ấy, hay thay đổi vài điều trong đó, hay thêm thắt điều gì – hay bắt đầu lại từ số 0?

➤ Tôi không suy nghĩ theo những mặt đó. Với tôi, điều quan trọng không phải là thay đổi, mà là thấu hiểu. Tôi không tìm cách thay đổi vận động viên tôi làm việc cùng, tôi tìm cách hiểu con người họ ra sao và chúng tôi có thể làm những gì. Đây là quá trình một con người tự khám phá bản thân. Công việc này không giống như làm hoạ sĩ hay nhạc sĩ. Khi bạn soạn nhạc, bạn đối mặt với sự tĩnh lặng, chỉ có ở đó suy nghĩ của bạn, trái tim của bạn. Tôi thì đối mặt với một con người – và âm nhạc. Phải, bản thân tôi cũng có những sáng tạo riêng được những bản nhạc đó truyền cảm hứng, nhưng chúng sẽ chỉ có ý nghĩa nếu chúng tới được con người mà tôi đang làm việc cùng – bởi chính họ mới là người biểu diễn. Ý tưởng của tôi là vô giá trị, trừ khi chúng chạm tới người đó, trừ khi người đó cảm nhận được chúng và có khả năng thể hiện được điều gì đó từ chúng.

Vậy, quay lại với một trong những câu hỏi trước: anh nhận định thế nào về quan hệ hợp tác giữa anh và Shoma qua 3 bài diễn? Phải chăng anh đã có thể hiểu được tâm hồn, tính cách cậu ấy, hay hiện tại vẫn đang trong quá trình tìm hiểu? 

➤ Vấn đề này thì luôn luôn là đang trong quá trình tìm hiểu chứ! Tôi cho rằng thành quả làm việc 3 năm của chúng tôi chắc chắn đã được thể hiện. Những màn trình diễn của Shoma cho bài thi “Dancing on my own”, với tôi, không chỉ mang tính đại diện cho thành quả làm việc của năm qua. Kết quả của hai bài thi trước chúng tôi làm việc với nhau đã thể hiện rõ ràng. Tôi nghĩ rằng mình sẽ không thể đạt được thành quả như màn biểu diễn cậu ấy thể hiện nếu mới chỉ hợp tác lần đầu. 

So sánh 3 bài diễn trên, tôi đã tìm thấy rất nhiều đặc điểm giống nhau của chúng, một số khá bao quát, như cách di chuyển tay uyển chuyển, gần như là mang chất ballet hay dáng vẻ nhẹ nhàng trong phong cách của cậu ấy, điều khiến tôi nhớ đến phong cách trượt băng Bắc Mỹ, nhưng cũng có cả những chi tiết nhỏ hơn như những đoạn spread eagle ngắn được sử dụng để liên kết giữa các bước di chuyển và bước đổi hướng, hay động tác lắc cổ đặc trưng, hay những cử chỉ và động tác khác nữa.

“Time after time”
“This town”
“Dancing on my own”

➤Bên cạnh các cú nhảy, mọi vận động viên đều có một số động tác nào đó mà họ thoải mái khi làm, có thể làm tốt. Với tư cách biên đạo viên, bạn cần tìm cách để sử dụng những động tác đó. Kiểu như giờ tôi qua thăm nhà bạn, thấy những đồ nội thất bạn có và đề nghị bạn cho tôi bài trí lại nhà bạn với những đồ đạc đó – nhưng mà đẹp hơn vậy. Đây là công việc của chúng tôi với tư cách biên đạo viên. Phải, chúng tôi sẽ mang đến thêm một cái gối tựa, một cái ghế, có thể thêm một bức tranh, hay sơn lại màu tường, nhưng chúng tôi không bỏ hết đồ nội thất của bạn đi. Chúng tôi làm việc với những gì bạn có. Những vận động viên đối tác vốn đã ở top đầu, rất gần với đỉnh cao, nằm trong top 10, top 5 thế giới. Họ vốn đã rất tài giỏi. Họ có rất nhiều đồ nội thất đẹp, nhiều tranh đẹp trên tường nhà họ. Nếu bỏ hết đi thì thật ngu ngốc. Và đó là lý do tại sao bạn bắt gặp những điểm tương đồng đấy. Kể cả nếu cậu ấy có làm việc với một biên đạo viên khác, bạn vẫn sẽ thấy lại những đặc điểm này – bởi lẽ Shoma chính là Shoma. Cậu ấy có một phong cách đặc trưng cho mình.

Vậy mà tôi vẫn thấy phong cách của cậu đã ấy có chút thay đổi! 

➤ Cảm ơn bạn! Đấy là điều tôi hi vọng. Khi tôi làm việc, những bài diễn tôi biên giống như tranh ghép hình vậy. Dù điều này không thể hiện ra ngay lập tức, nhưng tôi không để những khoảng trống để họ chỉ trượt từ đầu sân đến cuối sân. Tất cả mọi thứ đều theo nhịp sáu, nhịp tám, hoặc bất cứ nhịp nào của đoạn nhạc đang sử dụng. Và mọi thứ được thiết kế để khớp lại với nhau như những mảnh ghép, kể cả các cú nhảy hay tổ hợp xoay. Một số vận động viên sẽ gặp trục trặc với chuyện này nếu trước giờ họ chưa làm việc với biên đạo viên nào có cách làm giống tôi – họ sẽ có thể cảm thấy bó buộc, vì trong quá trình phát triển bài diễn họ muốn thay đổi chúng. Đây là một trong những yếu tố chính mà tôi nghĩ là Shoma hiểu, vì trước đó chúng tôi đã làm việc với nhau 2 lần cho bài diễn thưởng lãm. Khi bắt đầu biên bài thi thì cậu ấy đã hiểu rõ não tôi hoạt động thế nào. Và cậu ấy tận tâm cùng tôi trải qua quá trình đó. 

Và hẳn nhiên, tôi muốn họ được thoải mái. Nhưng bạn đâu thể tùy tiện chỉnh nhạc chỗ này chỗ kia được, vì như thế sẽ chẳng có yếu tố nào còn ý nghĩa nữa cả. Với tôi, công việc biên đạo không chỉ là đệm nhịp hay tạo điểm nhấn – mà giống như dệt lưới vậy. Và chúng ta sẽ đi theo giai điệu và dòng chảy của bản nhạc, và nhịp điệu, và sự thay đổi xúc cảm, sự thay đổi tông giọng trong đó – chúng ta phải đi theo âm nhạc!

II. ‘Dancing on my own’: Lời

“Dancing on my own” ở giải Quốc gia 2020

Nói về âm nhạc và lời nhạc, chúng ta cùng nói về bài hát này: “Dancing on my own”. Trong một phỏng vấn gần đây Shoma cho biết anh đã gửi cậu ấy 2 bài hát và cậu ấy đã chọn 1 trong số đó. Ở thời điểm hiện tại, liệu anh có phiền tiết lộ bài hát còn lại anh gợi ý cho cậu ấy, hoặc ít nhất là hướng đi còn lại anh muốn cùng Shoma khám phá trong mùa giải 2019-20 vừa qua không? Đó là một bài hát hoàn toàn khác biệt với “Dancing on my own” hay là tương đối gần với nó về mặt phong cách và âm điệu?

➤ Bài hát còn lại là của một nghệ sĩ tôi từng được xem trong một talk show đêm muộn. Anh ấy có thể nói là một nghệ sĩ underground, rất nổi tiếng trên Youtube, và đang chuẩn bị kí kết một hợp đồng lớn thu âm lại nhạc của anh ấy: anh ấy là con lai Nhật – Úc. Tên là JoJi, và bài hát là “Dancing in the dark”.

Bài hát này có chủ đề tương đồng với “Dancing on my own”, nhưng mang lại cảm giác hoàn toàn khác biệt. Là một chất liệu nhạc hoàn toàn khác biệt. Có hơi hướng blues hơn một chút, nhưng theo kiểu techno. Khá tình cờ là Vincent Zhou từng trượt một bài diễn thưởng lãm trên nền nhạc này, một chuyện lúc đó tôi hoàn toàn không hề biết.

Tôi chọn 2 bài hát này và đặt hàng 2 nghệ sĩ làm nhạc khác nhau để điều chỉnh lại phần nhạc. Người đầu tiên là Orin Isaacs – một nghệ sĩ, nhà soạn nhạc ở Toronto, đạo diễn âm nhạc cho rất nhiều chương trình TV ở Canada. Tôi quen biết anh ta qua Sandra Bezic. Thể loại âm nhạc này là sở trường của anh ta, nên tôi đã gửi anh ta bài hát này và cùng nhau thảo luận làm sao để chuyển nó thành một bài thi tự do. Nhưng rốt cuộc Shoma lại chọn bài còn lại. 

Vậy là anh gửi cho Shoma phần nhạc đã được sắp xếp thay vì bài hát gốc?

➤ Phải, tôi dùng 2 bài hát đó và tạo ra những bài thi tự do từ chúng, và chúng tôi bổ sung thêm nhạc nền để làm nổi bật phần lời hát. Chúng chứa đựng nhiều hơn bài hát gốc. Nhưng tất nhiên chúng tôi chưa từng bắt tay vào thực hiện bản nhạc còn lại. Nó bị bỏ ngỏ. Với “Dancing on my own”, tôi biết đến bài hát này với tư cách là một bản hit ở lĩnh vực nhảy, vì nhiều năm trước tôi rất mê nghệ sĩ Robyn, khi tôi còn trẻ và thường đi nhảy. Cô ấy đã rời khỏi ngành nhạc phải đến cả thập kỉ và tái xuất với bài hát đó. Nó là một trong những bản hit gần đây hơn của cô ấy. Và rồi vài năm sau đó tôi có được nghe phiên bản giọng nam với phong cách ballad hơn, và ngay lập tức nghĩ đến Shoma – vì những gì cậu ấy đang trải qua trong cuộc đời ở thời điểm đó. Ban đầu tôi đã nghĩ nó có thể dùng làm một bài diễn thưởng lãm, vì nó không có đủ cường độ và tính đa dạng trong chất liệu nhạc để đủ mạnh cho một bài thi dài cấp trưởng thành. Nhưng ở Montreal có một nhà soạn nhạc rất tài năng và giàu kinh nghiệm trong xây dựng nhạc trượt băng – anh ấy làm rất nhiều nhạc cho cộng đồng khiêu vũ trên băng – và nếu như cho anh ấy một bài nhạc với lời hát thì anh ấy có thể soạn ra nhạc nền để bổ sung vào quanh nó. Anh ấy có thể soạn cả phần mở đầu lẫn phần ngắt quãng. Anh ấy có thể làm nổi bật phần lời hát cho bạn, và anh ấy là chuyên gia trong việc tách bạn khỏi giai điệu, đưa bạn đến một phần nhạc khác, và thả lại bạn về bài hát gốc mà không gây đứt quãng. Tên anh ấy là Karl Hugo. Anh ấy đã soạn phần nhạc chúng tôi cần: một đoạn Mở đầu và ngắt quãng, và cũng thêm một lớp đệm nhịp lên trên bài hát nữa.

Karl Hugo biểu diễn “Your last kiss” – 2 phần mới soạn thêm cho bài thi của Shoma

Theo một cách nào đó, anh đã trả lời câu hỏi của tôi, nhưng có lẽ anh có thể bổ sung đôi chút và giải thích một chi tiết anh vừa đề cập. Nhiều người đã để ý “Dancing on my own” có gợi nhớ đến vấn đề huấn luyện của Shoma, khiến cho bài thi này đậm tính cá nhân một cách độc đáo: câu chuyện của nhân vật trữ tình trong lời hát và những trắc trở của anh ta với việc Shoma chia tay đội huấn luyện cũ và đơn độc chiến đấu giữ lấy vị thế của mình trong môn trượt băng đã hòa quyện vào nhau. Bên dưới lớp mặt nạ của nhân vật chính trong lời bài hát, ta có thể dễ dàng nhận ra chính bản thân Shoma, những khó khăn chính cậu ấy gặp phải. Tôi tự hỏi hai hình ảnh song song rõ rệt này đã khiến anh suy tư đến mức độ nào vào thời điểm tháng 8, khi anh mới biên đạo bài thi này cho Shoma, và tình trạng huấn luyện không rõ ràng của Shoma đã ảnh hưởng đến tư duy của anh trong quá trình xây dựng bài thi này đến mức độ nào?

➤ Để không tiết lộ quá nhiều những gì tôi được biết về cuộc sống riêng tư của cậu ấy, tôi sẽ chỉ nói rằng chuyện này có gốc rễ sâu hơn vấn đề huấn luyện viên. Sâu hơn, sâu hơn rất nhiều. Đó là câu chuyện của một chàng trai trẻ đứng trước giao lộ của cuộc đời. Không chỉ là chuyện về huấn luyện – đó là chuyện về gia đình, về sự nghiệp. Đó là câu chuyện học cách tự đứng trên đôi chân của mình – và giống như một câu chuyện về quá trình trưởng thành hơn bất cứ thứ gì khác. Đặc biệt là năm ngoái đã có rất nhiều chuyện xảy ra với cuộc đời Shoma. Cậu ấy không có huấn luyện viên! Không chỉ không ở cùng huấn luyện viên – cậu ấy còn chưa tìm được huấn luyện viên mới! Vậy là, tôi đã làm việc với một vận động viên không có huấn luyện viên kèm cặp, một chuyện tôi chưa từng trải nghiệm trước giờ.

Tôi đã hi vọng cậu ấy có thể kết nối được mình với bản nhạc và nhờ đó mà có thêm sức mạnh, để cậu ấy có thể tìm thấy mình trong đó. Nếu đã thực hiện một tác phẩm tự sự, thì phải thực hiện với năng lượng tích cực. Nếu không, thì thật sự rất khó. Rất khó để ta có thể đặt mình vào thế yếu mềm mà phơi bày trần trụi tâm hồn mình trước thế giới. Nhưng nếu có yếu tố tích cực trong đó, thì ta sẽ tìm được sức mạnh, tìm được lý do cho mình để thực hiện.

Thật tiếc vì đại dịch đã diễn ra. Tất nhiên, Shoma đã trải qua một mùa giải rất khó khăn: rất nhiều hỗn loạn, rất nhiều bấp bênh, lại còn bắt đầu trễ. Cậu ấy đã phải rất luống cuống mới có thể sắp xếp lại bản thân, nhưng tôi cho rằng cậu ấy vừa kịp để sẵn sàng đến giải VĐTG. Tôi có linh cảm cậu ấy có thể thực sự làm người khác bất ngờ tại đó. Nhưng rồi giải đấu đã không diễn ra. Và ta cũng không thể biết chuyện gì đáng ra sẽ xảy ra tại đó.

Với cùng một bài thi này, cậu ấy đã thể hiện những màn trình diễn tương phản đến kịch liệt trong suốt mùa giải. Một trong số đó là điểm chạm đáy sự nghiệp của cậu tại Grenoble, nhưng cũng trong mùa giải này cậu ấy đã có một màn trở lại ấn tượng: một màn trình diễn tốt ở giải Quốc gia, và cuối cùng là một màn trình diễn xuất sắc ở Den Haag. Vậy là, trong quá trình mùa giải trôi qua, chúng ta đã chứng kiến sự cô đơn đó chuyển thành sự nhận thức và chấp nhận bản thân, rồi thành niềm hạnh phúc được là chính mình mà cậu mới tìm được: niềm hạnh phúc khi lấy lại được mục tiêu và con người mình và nhiều hơn thế nữa. Và rồi những nụ cười và kết quả tốt xuất hiện. 

➤ Một người bạn dạy trượt băng của tôi ở khu vực San Diego đã ở đó tại Den Haag với một học trò nhỏ của cô ấy. Tôi nhớ cô ấy đã gọi cho tôi từ sân thi đấu ngay sau màn trình diễn của Shoma, và cô ấy kiểu: “Ôi Chúa ơi, cậu ta thật tuyệt diệu, cậu ta chắc sẽ thắng giải VĐTG đấy, thật đáng kinh ngạc, đáng kinh ngạc!”

Thật thú vị khi màn trượt thảm họa ở Grenoble nhấn mạnh sự đau đớn và buồn khổ trần trụi trong chính phần nhạc và lời, còn tại Den Haag ta lại có sự tương phản mơ hồ giữa niềm hạnh phúc Shoma mới tìm thấy với chủ đề “buồn” của bài hát. Và cả hai trường hợp đều “hợp lý” – dù là hai cái lý đó hoàn toàn khác biệt.

Uno Shoma tại Grenoble (hình trên; nguồn: @yawning_shoma) và tại giải Quốc gia (ảnh dưới; nguồn: Olympic Channel)

➤ Chẳng phải rất thú vị sao, vì chính khi biểu diễn một bài trượt “mềm yếu” lại là khi bạn đang mạo hiểm. Còn mạo hiểm hơn cả khi trượt những bài nhạc vô địch hào nhoáng như “The Gladiator” (“Võ sĩ giác đấu”). Những bài nhạc vô địch hào nhoáng thật ra lại dễ trượt. Chúng không yêu cầu sự kết nối về cảm xúc, bạn chỉ cần giỏi là được. Nhưng nếu đó là một bài nhạc mềm yếu, tinh tế, nhạy cảm, thì là bạn đang đặt cược. Nhưng nếu có thể trượt tốt, phần thưởng nhận lại là rất lớn! Chắc chắn sẽ rất lớn. Nhưng đó là một nước đi mạo hiểm. Luôn là mạo hiểm khi bạn chọn phơi bày trần trụi tâm hồn mình.

III. ’Dancing on my own’: Nhạc

“Dancing on my own” tại Challenge Cup 2020 (Den Haag)

Nói đến phần nhạc, phải chăng anh đã ghi nhớ và xem xét các yếu tố kĩ thuật của Shoma cũng như vị trí của chúng trước khi yêu cầu Karl Hugo sắp xếp bản nhạc? Trong thời gian làm nhạc, phải chăng anh đã đích thân đưa ra yêu cầu đặt một kiểu nhạc nhất định nào đó ở vị trí nhất định nào đó, hay là anh để nhà soạn nhạc nắm quyền phụ trách phần này và tạo thêm những gì anh ấy thấy hợp lý theo ý anh ấy?

➤ Vâng, chắc chắn rồi! Với cấp độ trưởng thành, và đặc biệt với các chàng trai, 3 yếu tố kĩ thuật đầu tiên luôn là quad – quad – triple axel, hoặc quad – quad – quad. Làm sao họ có thể vừa nhảy quad vừa nghĩ đến nhạc, đến cảm xúc, đến những thứ khác được? Nghĩ đến những thứ khác ngoài làm sao để tiếp đất thành công cái cú quad chết tiệt đó được? Mọi người cần phải hiểu là chúng ta hiện đang sống trong một thế hệ mà các vận động viên luôn thúc đẩy bản thân họ đến giới hạn của khả năng con người. Và tôi không đề cập đến điều này một cách nhẹ nhàng đâu. Shoma, Yuzuru, Nathan luôn thực hiện rất nhiều cú quad trong mỗi bài diễn: hai, ba, bốn, năm – như thể đang chạy cả dặm (khoảng 1,61 km) trong 4 phút, hay 30 mét trong một khoảng thời gian còn ngắn hơn kỉ lục thế giới hiện tại nữa – và lặp đi lặp lại việc đó. Tất cả những điều trên lại còn phải làm trên một phông nền được kì vọng là phải ý nghĩa, phải tuyệt mĩ, công phu và tinh tế. Đây là nhiệm vụ của chúng tôi với tư cách biên đạo viên: tạo ra một hình ảnh về tính nghệ thuật trong khi các vận động viên thực chất đang nỗ lực thách thức vật lý, thách thức giới hạn con người.

Không còn như thời John Curry thắng Olympic chỉ với cú triple salchow, triple toe và triple loop nữa. Ông ấy khi đó vẫn có thể dành thời gian để thể hiện vẻ đẹp. Tôi chắc chắn ông ấy hoàn toàn có thể thực hiện tất cả các cú triple trong luyện tập luôn. Petra Burka, huấn luyện viên cũ của tôi, được ghi nhận là người phụ nữ đầu tiên thực hiện một cú triple salchow hoàn hảo trong thi đấu. Bà ấy đã được lưu danh sử sách. Nhưng trong thi đấu, bà ấy không thường xuyên thực hiện cú nhảy đó. Bà ấy có nhảy nó một lần, nhưng bà không nhảy nó ở Olympic và tôi cũng không nhớ là bà ấy có nhảy nó khi bà ấy giành chức Vô địch Thế giới vào năm 1965. Bà ấy có kĩ thuật nhảy với độ cao ấn tượng, như thể gắn lò xo vào chân vậy, và bà mạnh hơn tất cả những vận động viên nữ khác. Và bạn biết bà ấy đã nói gì với tôi không? Bà ấy nói rằng bà có thể nhảy được tất cả các cú triple*** trong luyện tập! Kể cả triple lutz – vào những năm 1960! Nhưng ở thời điểm đó môn trượt băng đang ở vị trí khác. Các cú nhảy không phải yếu tố quyết định, nên họ không phải ép bản thân đến giới hạn. Giờ đây thử thách là tạo ra một màn trình diễn mà ta vẫn có thể đạt được sự thỏa mãn khi âm nhạc được trình diễn, khi các yếu tố kĩ thuật được thực hiện thành công, khi có sự kết hợp của cả hai thứ đó.

(***Ở đây chỉ nói đến các cú triple đã được thực hiện thành công ở thời điểm đó, không tính triple axel, cú nhảy có 3,5 vòng xoay và phải đến năm 1978 mới được thực hiện thành công trong thi đấu)

Khi ta đã nói đến những bản nhạc có lời, sự đòi hỏi lại càng tăng. Khi ta có ca từ để hát, câu chữ để truyền tải, cốt truyện để kể, yêu cầu về mặt biên đạo lại càng nắm vai trò quyết định. Không chỉ còn là những nốt cao, nốt trầm, hay những khoảnh khắc tràn đầy năng lượng nối tiếp những khoảnh khắc dịu dàng – đó còn là ca từ, ý nghĩa, suy nghĩ, hình ảnh, cảnh tượng. Những điều đó không được bỏ ngỏ cho trí tưởng tượng – chúng là ca từ, ta hiểu chúng mang ý nghĩa gì mà! Do vậy, mỗi khi sử dụng một bản nhạc có lời cho một bài thi, tôi luôn cần một đoạn nhạc nền mở đầu. Chúng ta sẽ thực hiện một ít biên đạo ở đầu bài, rồi lên, trượt, quad! Một đoạn chuyển đổi đơn giản trong nhạc – không đòi hỏi quá nhiều về thể chất – lên, bùm, trượt, quad! Rồi lại lặp lại; một đoạn chuyển đổi đơn giản – không đòi hỏi quá nhiều về thể chất, nhưng chứa đựng nhạc cảm – và lên, bùm, quad (hoặc triple axel)! Và sau đó tôi có thể cho giọng hát vang lên, vì ta sẽ có ít nhất 10 giây để có thể làm gì đó giúp biểu đạt ca từ.

Ở phần mở đầu ít nhất cũng phải biểu đạt được nhịp điệu bản nhạc, nhỉ?

Cú nhảy đầu tiên (4S) tại phần mở đầu của một đoạn nhạc
4T ở kết thúc của một đoạn nhạc nền khác
Tổ hợp nhảy 3A-1Eu-3F ở cuối đoạn nhạc (ở nửa sau của bài thi)

➤ Phải! Và đây là một trong những lý do tôi cho rằng nếu có thể bắt đầu làm việc với các vận động viên khi họ còn trẻ là một điều tốt, bởi nếu như vận động viên đó đến từ nước ngoài, và bạn không quen biết huấn luyện viên của họ cũng như hiểu rõ họ đã được dạy như thế nào – bạn sẽ đặt mình vào vị trí mạo hiểm với tư cách một biên đạo viên. Thực sự đấy. Tôi luôn cố gắng thuyết phục các học trò của tôi rằng nếu các em tập luyện tai mình để theo được nhạc, và nhận thấy từng bước chéo chân (crossover), từng bước đổi hướng three-turn, từng chi tiết tinh tế dẫn vào cú nhảy, bao gồm các bước đổi hướng, cách lấy đà, những đoạn dâng cao và cao trào đều đậm tính âm nhạc, thì nó sẽ giúp ích được các em rất nhiều. Bản nhạc sẽ nâng đỡ các em, giúp các em trình diễn những kỹ thuật khó dưới áp lực một cách dễ dàng hơn.

Điều này cũng phụ thuộc vào sự tập trung của vận động viên trong bài diễn chứ? 

➤ Không, nó tùy thuộc vào việc vận động viên đó quyết tâm đến mức nào. Đó là yếu tố duy nhất.

Tuy vậy, tôi cũng để ý thấy trong màn trượt của Shoma ở Grenoble rằng không chỉ các cú nhảy hỏng, và cả cách căn thời gian cũng rất sai – kể từ trước cú ngã đầu tiên. 

➤ Có thể cậu ấy đã quá vội vã và trượt vượt lên trước nhạc. Sự bồn chồn mà đã làm bạn trượt trước nhạc cũng sẽ làm bạn mắc lỗi. Một trong các yếu tố quan trọng nhất để thực hiện thành công những cú quad và các yếu tố kĩ thuật khó là cách căn chỉnh thời gian. Việc căn thời gian nhảy là yếu tố tiên quyết – hơn cả đà nhảy, nỗ lực và những điều khác. Qua hằng năm trời, những vận động viên đã tích lũy được nhiều lợi ích nhất từ quá trình huấn luyện của tôi chính là những em quyết tâm nhất. 

Và bạn biết ai là người quyết tâm nhất không? Kim Yuna! Bản thân cô ấy vốn đã là con người có năng khiếu âm nhạc: cô ấy thích hát và có giọng hát ngọt ngào, cô ấy yêu âm nhạc. Tất cả những gì tôi nói với cô ấy – cô ấy đều tin tưởng. Thả mình theo dòng nhạc không phải là thử thách mà là điều thiết yếu với cô ấy. Nếu cô ấy trượt lệch nhạc, cô ấy sẽ ngã. Cô ấy không thể tách khỏi âm nhạc. Nếu bạn xem những màn trình diễn của Kim Yuna, tìm ra một khoảnh khắc cô ấy lệch nhạc là cả một thử thách. Và cô ấy là một trong những vận động viên có phong độ ổn định nhất trong lịch sử trượt băng nghệ thuật.

Cố gắng để khiến các vận động viên tin vào điều đó không dễ. Giới trượt băng có đôi chút ngây thơ. Họ nghĩ rằng kĩ thuật là kĩ thuật và nghệ thuật là nghệ thuật, nhưng điều đó không đúng! Nó phải là sự kết hợp giữa hai thứ đó! Nếu bạn học ballet hay học nhảy, các giáo viên sẽ dạy luôn một lượt cả nghệ thuật lẫn kĩ thuật. Có nghệ thuật ẩn trong kĩ thuật và có kĩ thuật ẩn trong nghệ thuật.

Và màn thể hiện của Shoma ở Den Haag đã thể hiện rõ ràng cả trong hai mặt kĩ thuật lẫn nghệ thuật! So với khi ở Grenoble, cách căn chỉnh thời gian của cậu ấy rất chuẩn xác. Việc này dẫn đến câu hỏi tiếp theo. Hồi tháng 1, anh có đến Telfs để làm việc với Shoma và Stéphane để nâng cấp bài thi. Anh có thể chia sẻ với tôi nhiều hơn về bước thứ 2 này trong quá trình hợp tác xây dựng bài thi này không? Chính xác là anh đã làm những gì, kế hoạch ra sao? 

Uno Shoma, Stéphane Lambiel, và David Wilson tại Telfs (Áo), tháng 1 năm 2020 (Nguồn)

➤ Khoảng thời gian đó thật tuyệt vời! Tôi đã quen biết Stéphane qua nhiều năm qua các buổi trình diễn của Yuna. Mọi buổi trình diễn đều có mặt Stéphane, bởi lẽ ta không thể tổ chức một buổi trình diễn mà thiếu đi Stéphane Lambiel được. Tôi lại chưa có cơ hội được biên đạo riêng cho Stéphane, dù đã từng thảo luận về việc đó nhiều lần – nhưng cơ hội chưa bao giờ xuất hiện. Tôi đã rất vui và hào hứng khi biết được tin, trong bao nhiêu người trên thế giới, Shoma lại quyết định chọn Stéphane làm huấn luyện viên. Stéphane đã rất nhã nhặn liên hệ với tôi và nhờ tôi qua bên đó làm việc với anh ấy và Shoma. Anh ấy cũng từng đề cập việc để tôi làm việc với vài học trò khác của ảnh – đó là những kế hoạch tương lai cho năm mới.  

Tôi đã đến đó vào tháng 1 và dành thời gian với Shoma và Stéphane, chỉnh lại bài thi một lượt, xem có điều gì chúng tôi có thể làm để khiến nó hay hơn, thoải mái hơn, xem có vấn đề gì không. Đây cũng là một trong những điều tuyệt vời trong thời gian 4 năm Yuna ở Toronro. Sau mỗi cuộc thi, Brian có thể sẽ gặp tôi và nói: OK, vấn đề này đã xảy ra, vấn đề kia đã xảy ra, và sau đó Yuna sẽ nói: Tôi muốn thay đổi phần này, chỉnh lại phần kia, ở đoạn đó tôi cảm thấy mình có thể làm nhiều hơn, tìm kiếm một chi tiết khác xem. Với tư cách một biên đạo viên, thật sự rất may mắn khi có những khoảng thời gian ở riêng nội bộ cùng với huấn luyện viên và vận động viên, khi bạn được trao cơ hội để nâng cấp thành phẩm. Đó là điều tôi yêu thích nhất – được làm việc với huấn luyện viên và vận động viên, 3 chúng tôi cùng hợp tác. Tôi yêu việc đó! Tôi cho rằng những huấn luyện viên tốt nhất là những người khiến việc đó khả thi: họ muốn dành thời gian với biên đạo viên và vận động viên để hiểu tình hình hiện tại của bài thi và chia sẻ những điều họ biết. Tôi nghĩ rằng biên đạo viên chúng tôi cần phải cởi mở với việc đó. 

Tôi đã rất vui vẻ trong một tuần ở đó. Tôi không thể nhớ chúng tôi đã làm cụ thể những gì, nhưng tôi cảm thấy đến cuối tuần bài thi đã trở nên hay hơn. 

Đúng là nó đã trở nên hay hơn rất nhiều! Cậu ấy sau đó đã trượt tại Den Haag và có thể thấy rõ rất nhiều thay đổi trong bài thi, rất nhiều chi tiết nhỏ…

➤ Những chi tiết nhỏ nhưng mang thông điệp lớn đến khán giả, những chi tiết nhỏ khiến các vận động viên thoải mái hơn – đó là những điều tinh tế tỉ mỉ, những chi tiết tí hon nhỏ xíu. Trong quá trình vận động viên trải qua mùa giải và tiến gần đến hoàn thiện màn trình diễn hướng đến giải VĐTG, những chi tiết đó càng cần chi li hơn. Một trong những vấn đề khiến tôi phiền lòng nhất là có những vận động viên không coi trọng giai đoạn sau của quá trình hợp tác. Tôi luôn nói với họ: gọi cho tôi đi! Để tôi tham gia cùng, chúng ta sẽ cùng nhau cải tiến bài thi để nó hay hơn, dễ hơn. Các biên đạo viên cần được tham gia trong quá trình tiếp diễn. Đó là điều thiết yếu nếu bạn muốn bài thi của bạn trở thành một tác phẩm đáng nhớ.

Thú vị là, có một số thay đổi nhỏ trong bài thi tự do của Shoma đã bắt đầu thành hình kể từ trước khi anh đến Áo. Một thay đổi diễn ra trước chuyến đi của anh là động tác cantilever. Trong 3 cuộc thi đầu tiên (Japan Open, Finlandia Trophy, và Internationaux de France ở Grenoble) Shoma chỉ thực hiện nó một cách đơn giản, trong khi từ cuộc thi thứ 4 (Rostelecom Cup) về sau cậu ấy đã thêm vào một cử chỉ tay để nhấn mạnh nhịp nhạc. Không rõ sự thay đổi này là ý tưởng của anh, hay của Stéphane, hay của chính Shoma nhỉ?

➤ Tôi không nhớ, nhưng tôi nghĩ chắc là Stéphane. Hoặc có thể là Shoma. Đừng lừa dối bản thân: Stéphane tự anh ấy vốn là một biên đạo viên tài năng kiệt xuất. Anh ấy đã chọn nhận vai trò của huấn luyện viên và mở trường dạy riêng, một việc rất tuyệt vời. Chúng ta rất may mắn khi có những người như Stéphane trên thế giới này để dạy trẻ. Tôi nói vậy với thái độ nghiêm túc tuyệt đối đấy! Đúng là phước lành cho chúng ta khi có những người như Stéphane làm việc giáo dục thế hệ tương lai. Có một số người như anh ấy, những người đại diện cho trình độ trượt băng xuất chúng nhất, là ví dụ đẹp đẽ nhất cho cả chất lượng trong trình diễn lẫn tạo dựng. Anh ấy làm biên đạo đã là một chuyện tuyệt vời, nhưng điều tuyệt vời hơn nữa là anh ấy làm giáo viên. Việc đó cho tôi niềm hi vọng vào tương lai, rằng sẽ có những người giống anh ấy, làm công việc trao tặng và chia sẻ.

Tôi rất hào hứng khi được trở thành một phần trong mối quan hệ mới của họ. Ý tôi là, Stéphane vốn đã sẵn có rất nhiều tài nguyên rồi – anh ấy đâu cần đến tôi! Stéphane là mọi thứ. Anh ấy là hiện thân của tất cả những phẩm chất bạn mong muốn ở một vận động viên trượt băng: khả năng kĩ thuật khó tin trong các cú nhảy và xoay, nhưng còn tính nghệ thuật… và chất lượng trong phong cách trượt nữa! Tìm cả thế hệ mới được một người như anh ấy. Anh ấy sẽ không bao giờ bị quên lãng. Do vậy, tôi đã rất vinh dự khi anh ấy mong muốn tôi tham gia và đưa ra lời đề nghị đó.

Đoạn kết: Uno Shoma và Quá khứ

Tôi muốn khép lại cuộc trò chuyện của chúng ta với 3 câu hỏi cuối cùng về màn hợp tác giữa anh và Shoma. Đây là câu hỏi đầu tiên. Bài diễn của anh đã nâng cao sự linh hoạt trong trình diễn của Shoma với tư cách một vận động viên và đã mở ra – hoặc ít nhất cũng đã nhấn mạnh – mặt mềm mỏng và trữ tình trong phong cách trượt của cậu ấy – đến một mức độ chưa từng thấy ở cậu ấy trước kia. Theo quan điểm của anh, còn những hướng đi nào Shoma có thể khám phá, hoặc ít nhất, những hướng đi nào anh muốn được cùng Shoma khám phá, nếu như có thêm cơ hội làm việc với chàng vận động viên này? Anh muốn làm một thứ khác biệt, hay đi sâu hơn vào hướng đi anh đã chọn trong những bài diễn anh biên đạo cho cậu ấy trước đó? Anh có cho rằng chàng vận động viên này vẫn còn những mặt khác chúng ta chưa được biết đến, những tiềm năng khác vẫn còn ẩn giấu khỏi tầm mắt chúng ta?

➤ Làm việc với các vận động viên trong dài hạn, tôi luôn không ngừng tìm kiếm hướng đi mới – chúng ta chưa từng làm điều gì với nhau trước kia nhỉ? Em còn có thể kết nối với điều gì nữa? Em còn có thể định nghĩa bản thân bằng điều gì nữa? Với Shoma, tôi không biết cần phải nói điều gì, bởi lẽ đây mới chỉ là khởi đầu. Chúng tôi mới chỉ đang cào xới trên bề mặt. Và tôi nghĩ cậu ấy cũng mới chỉ đang cào xới trên bề mặt. Bản thân cậu ấy cũng mới chỉ trở thành một người đàn ông, hay mới chỉ trở thành một người trưởng thành. Những điều tôi có thể nói là, nếu tôi vẫn tiếp tục được có mặt trong tương lai cậu, tôi sẽ tìm một hướng đi không liên quan gì đến những thứ chúng tôi đã làm trong quá khứ, nhưng là một hướng đi mà cậu ấy có thể định nghĩa bản thân mình, một hướng đi chạm tới cảm xúc của cậu ấy. Đó là điều quan trọng nhất – vận động viên trượt băng cần phải cảm được nhạc mới có thể biểu diễn nó. 

Trong suốt quá trình hợp tác với Shoma và các huấn luyện viên của cậu ấy, đâu là khoảnh khắc hài hước nhất, hay cảm động nhất mà anh có thể chia sẻ?

➤ Ở thời điểm bắt đầu, trước khi có sự tham gia của Stéphane, khi Shoma vẫn chưa có huấn luyện viên và tự mình luyện tập, thì tôi hoàn toàn chỉ giao tiếp với mỗi cậu ấy và Ohama Koji trợ lý của cậu ấy. Tôi đã rất lo lắng rằng sau khi biên đạo cho cậu ấy xong, cậu ấy sẽ chỉ có một mình với tất cả những tài nguyên đó. Do vậy tôi đã rất kiên quyết rằng chúng tôi cần có vài buổi FaceTime tiếp sau đó. Sau khi về nhà, tôi liên tục gò ép: ‘Tôi muốn xem cậu ấy đang làm gì! Cứ đến sân băng với cậu ấy đi và chúng ta có thể gọi FaceTime một chút và tôi có thể trao đổi trực tiếp với cậu ấy!’

Tôi muốn chắc chắn rằng thành phẩm của tôi đủ tốt cho cậu ấy. Một điều mọi người không hiểu là quá trình tiếp nối không chỉ vì lợi ích của các vận động viên mà cũng vì bản thân các biên đạo viên nữa. Rất khó để có thể biên đạo ra cái gì trong vỏn vẹn 1 tuần khi ta không hiểu con người vận động viên. Và kể cả khi đã hiểu con người vận động viên, ta cũng không thể biết rằng liệu phương án đó có hiệu quả hay không. Chúng tôi cần khoảng thời gian tiếp nối đó để khiến thành phẩm của chúng tôi xứng tầm với vận động viên. 

Vậy là, Koji đã giúp điều đó xảy ra và chúng tôi có với nhau 4 đến 5 buổi gọi FaceTime. Với tôi là đêm khuya, ở Nhật là buổi sáng. Và rất khó để hiểu rõ tình hình đang diễn ra, vì cậu ấy quay lại video, và ta không thực sự có thể thấy rõ mọi thứ trong đó, đại loại thế. Nhưng tôi rất trân trọng sự kiên nhẫn của họ. Với tư cách một biên đạo viên, tôi rất vinh dự, vì cảm giác như họ đang làm vì lợi ích của tôi vậy. Vấn đề là: cậu ấy sẽ trượt bài thi đó, và các giám khảo sẽ đánh giá cậu ấy – và cả tôi nữa! Người hâm mộ sẽ đánh giá cậu ấy, nhưng họ yêu cậu ấy mà – và vì thế họ sẽ đánh giá tôi! Liên đoàn sẽ đánh giá cậu ấy – và cả tôi nữa! Vậy nên tôi thực sự vinh dự khi họ dành thời gian cho tôi cơ hội để cố gắng làm bài thi trở nên hay nhất có thể, dù là chỉ qua FaceTime.

Đó không hẳn là chuyện vui nhất, nhưng…

Câu hỏi cuối cùng: điều gì trong phong cách trượt của Shoma khiến anh ấn tượng nhất? Có một điểm nổi trội cụ thể, một dấu ấn hay mẹo vặt cá tính nào nổi bật hơn cả và khiến cậu ấy trở nên thực sự đặc biệt chăng?

➤ Ồ, câu này thì dễ! Có một huyết thống chảy trong các vận động viên trượt băng Nhật Bản… 

Cho phép tôi ngược dòng thời gian một chút. Có một thời kì khi mà trượt băng nghệ thuật còn là một môn thể thao rất “da trắng”, hầu như thống trị bởi các vận động viên châu Âu và Bắc Mỹ. Trong suốt nhiều thập kỉ nhiều quốc gia đã trỗi dậy và thiết lập chỗ đứng riêng trong sàn đấu quốc tế. Nhật Bản đã nuôi dưỡng di sản riêng về trượt băng của họ mà trong suốt nhiều năm đã nhen nhóm sủi bọt ngay sát bề mặt của sự công nhận quốc tế trước khi trở thành siêu cường như hiện tại.

Với hạng mục đơn nam, vài cái tên tôi nhớ đến là Igarashi Fumio vào cuối những năm 70, một người vô cùng xuất sắc và đi trước thời đại theo nhiều phương diện; Shigematsu Naoki giữa những năm 90 là một vận động viên có phong cách tuyệt đẹp với đường nét tao nhã và chất lượng tuyệt vời trong điều khiển cạnh lưỡi trượt. Tất nhiên cũng còn những người khác nữa và rồi ở thời gian gần đây danh sách đã trở nên rất dài, đứng đầu là Takahashi Daisuke, Hanyu Yuzuru và Uno Shoma đã nâng mặt bằng bộ môn lên một tầm cao mới.

Tôi nghĩ chắc chắn tồn tại một trường phái trượt băng Nhật Bản bao gồm những tiêu chuẩn tuyệt vời như tốc độ và độ trôi chảy nhẹ bẫng như không, cử động đầu gối mềm mại và kĩ thuật nhảy vô cùng bùng nổ nhưng có tổ chức. Bạn có thể thấy lịch sử của võ thuật và triết lý ở cách sống của họ – bạn có thể thấy những điều đó trong phong cách trượt băng của họ.

Phong cách trượt băng của Shoma chính là biểu tượng cho di sản tuyệt vời đó.


Bài viết gốc của Mikhail Lopatin: https://skating-to-music.blog/2020/08/23/a-coming-of-age-story-david-wilson-talks-about-his-collaboration-with-shoma-uno/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Powered by WordPress.com.

Up ↑

Create your website at WordPress.com
Get started
%d bloggers like this: